Showing posts with label Xã Hội. Show all posts
Showing posts with label Xã Hội. Show all posts

Monday, September 14, 2009

WTC bị 'san phẳng' và cuộc ném bom 'san phẳng' VN

Để cho sự kiện đau đớn như 11/9 hay chiến tranh Việt Nam không xảy ra, cần có tầm nhìn nhân loại. Nếu chỉ nhìn thấy biên giới quốc gia, như cậu tôi thấy lũy tre quanh làng ở Hoa Lư, hay đồng nghiệp nhìn qua hàng rào nhà mình bên DC, chắc chắn còn xung đột.

Cậu ruột của tôi rất quí những đứa cháu học hành đến nơi đến chốn, thoát ra lũy tre làng để lập thân, trong đó có tôi. Mỗi lần tôi thăm quê, mẹ thường mời họ hàng thân quen, trong đó có cậu, tới chơi nhà. Ngoài chuyện làm ăn, chuyện đường xa, cậu rất quan tâm đến nước Mỹ.

Câu hỏi của cậu là “Nước Mỹ có văn minh không?”. Đương nhiên câu trả lời là “có”. “Tại sao Mỹ lại mang bom ném Việt Nam?"

Làng Tụ An thanh bình thuở nào bên dòng sông Hoàng Long yên ả, chẳng có gì đáng gọi là mục tiêu quân sự. Cống thủy lợi Trường Yên tưới tiêu cho cả tỉnh Ninh Bình. Thế mà nơi đây từng hứng chịu vài lần bom đạn Mỹ, thực hiện "giấc mơ " làm "phẳng" miền Bắc của Tổng thống Mỹ lúc đó là Johnson. Giữa năm 1968, cống bị oanh tạc, mấy chục người chết thảm. Hai bên mố cống bị sụt lở và nứt. Năm đó lũ lụt đã tiếp tay phá tan đê. Hàng vạn người kêu khóc, trẻ em bà già nheo nhóc chạy lũ lên núi vào một đêm đen tối. Cậu tôi ghét Mỹ là đương nhiên.

Năm 2005, sau khi định cư ở Mỹ vài năm, tôi về thăm. Lại câu hỏi khác về nước Mỹ: “Họ có mạnh không?”. Câu trả lời: “Mỹ mạnh nhất thế giới, cậu ạ”. “Mạnh mà để Bin Laden tấn công?”.

Cậu nói với vẻ hài lòng: “Ném bom làng mình, gây tội ác, thì phải nhận hậu quả thôi”. Đó là cách người nông dân ít học quê tôi nghĩ về sự kiện 11/9.

Vào 8 giờ 46 phút sáng 11/9/2001, chiếc máy bay American Airlines số 11 chở khách đầu tiên lao vào tầng 80 đã chia cắt những tầng lầu trên đó thành ốc đảo. Rất nhiều người thấy lửa cháy đang liếm dần lên tầng của mình, đã nhảy tự tử từ trên cao 300-400m vì biết không thể thoát. Trước khi chết, họ cũng căm thù tột độ những kẻ khủng bố cũng không kém so với ông cậu khi nhìn bom rơi xuống làng tôi mấy chục năm trước.

Người New York, thấy hai tòa tháp từ từ sụp xuống như que kem bị nắng hè làm tan chảy, vô cùng căm hận 19 tên cướp 4 máy bay. Tòa tháp đôi (Twin Towers) "phẳng" như bình địa (Ground Zero)

Bin Laden tính toán rất kỹ để đạo diễn vụ này. 11/9/2001 rơi vào thứ 3, máy bay ít người đi lại, hành khách chống trả sẽ yếu hơn. Vừa cất cánh nên rất nhiều xăng đủ thiêu đốt tòa nhà hàng trăm tầng. Tháng 9 mùa thu nước Mỹ, trời trong xanh và nắng vàng rực rỡ, quay tivi hay chụp ảnh thật tuyệt diệu.

Máy bay đầu lao vào tòa nhà phía Bắc, chiếc sau chậm khoảng 15 phút, đủ thời gian cho các hãng thông tấn tới quay cảnh tòa nhà đang cháy. Chiếc thứ hai đâm vào tòa tháp phía Nam trước các ống kính ti vi đã lắp sẵn sàng để truyền hình trực tiếp cú lao khủng khiếp.

911 cũng là số gọi cảnh sát hay chữa cháy. Bên Mỹ, tháng ghi trước ngày nên mới có 9/11, nghĩa là ngày 11 tháng 9. Nhắc đến 911 nghĩa là nhắc đến nỗi đau khôn nguôi của người Mỹ.

Một đồng nghiệp kể về ngày tuyệt vọng đó tại Washington DC trong tòa nhà cách Nhà Trắng đúng một phố. Vừa ngồi vào bàn làm việc thì ai đó hoảng hốt báo một máy bay hành khách lao vào tòa tháp đôi ở New York. Cả nhóm sang xem ti vi mà không biết chiếc United Airlines 175 đang tới. Anh nhìn thấy chiếc máy bay đâm vào tòa nhà, khối lửa bùng lên trên ti vi do CNN quay trực tiếp.

Vì chuyện xảy ra ở New York nên Washington DC cách xa 500km không cảm thấy ngay. Các anh đang đứng bàn tán chợt nghe tiếng còi rú inh ỏi ngoài đại lộ Pensylvania, Lầu Năm góc bị tấn công. Khói đen bay cao ngất trời. Mục tiêu tiếp theo có thể là Nhà Trắng cách đó một phố. Anh cảm thấy chưa chắc còn sống để quay về nhà với các con.

Hàng chục ngàn nhân viên vội ra lấy xe ở gara để về. Nhưng khi đó đã quá muộn. Đường phố Washington DC chật cứng. Từ gầm gara lên đến đường vài chục mét, anh đợi khoảng 6 tiếng. Con nhỏ ở trường không ai đón.

Nước Mỹ hỗn loạn, người nào cũng im lặng, vẻ mặt thất thần. So với trận ném bom của Mỹ năm 1968 ở Việt Nam hay lụt do vỡ đê của dân cố đô Hoa Lư đó, sự hoảng loạn tại thủ đô Hoa Kỳ cũng không khác mấy.

Với cậu tôi ở Trường Yên, bạn đồng nghiệp hay người thân của gần 3.000 linh hồn đã chết oan uổng dưới đống tro tàn của Trung tâm Thương mại Thế giới, Lầu Năm góc hay chiếc máy bay rơi ở Pensylvania thì những kẻ gây ra tội ác đáng bị treo cổ.

Tại sao còn có người Việt Nam ghét đế quốc Mỹ. Xin hỏi cậu tôi và những người bị mất mát trong chiến tranh.

Tại sao cả nước Mỹ căm thù Bin Laden và đồng bọn. Xin hỏi những người đã sống qua ngày 11/9 trong sự hoảng loạn đến tột cùng.

Tại sao một số dân Palestine lại hân hoan vào ngày 11/9? Xin đến bờ Tây, Dải Gaza xem họ sống như tù nhân trên chính tổ quốc mình.

Nước Mỹ thay đổi sau khi người lính cuối cùng rút khỏi Sài Gòn năm 1975. Cú đâm máy bay vào tòa tháp đôi và Lầu Năm góc của Bin Laden đã thay đổi cả thế giới.

Tổng thống Nixon muốn Việt Nam đầu hàng, nhưng phải ngồi vào hội nghị Paris, để cuối cùng rút chạy trong cay đắng. Tổng thống Bush định đưa thế giới từ đa cực thành đơn cực do Mỹ làm bá chủ nhưng thất bại. Quốc gia Nga hay cạnh tranh với Mỹ đã không còn mạnh như trước, nhưng cùng lúc đó, Trung Quốc và Ấn Độ lại trỗi dậy.

Tìm cách tiêu diệt hết kẻ thù để không còn khủng bố như Bush muốn là không thể. Giải tán Taliban ở Afganistan, treo cổ Sadam Hussen tại thành Baghdad lại có những thế lực khác thích máu đổ lại nổi lên.

Khi những kẻ thông minh dùng trí não cho việc giết đồng loại thì rất đáng sợ. Bin Laden đạo diễn vụ tấn công nước Mỹ là một minh chứng. Basayev tổ chức tấn công trường học Beslan ở Nga có kịch bản tương tự, giết càng nhiều càng tốt.

Để cho sự kiện đau đớn như 11/9 hay chiến tranh Việt Nam không xảy ra, cần có tầm nhìn nhân loại. Nếu chỉ nhìn thấy biên giới quốc gia, như cậu tôi thấy lũy tre quanh làng ở Hoa Lư, hay đồng nghiệp nhìn qua hàng rào nhà mình bên DC, chắc chắn còn xung đột.

Thế giới phẳng cần lãnh đạo “phẳng”, chính trị “phẳng”, chiến lược “phẳng”, nghĩa là tìm ra giải pháp đôi bên hay nhiều bên cùng có lợi. Cách tiếp cận “trạng chết chúa cũng băng hà” để tìm cách "san phẳng" nhau chỉ mang lại thêm đau khổ. Khăng khăng cái “lưỡi bò” làm của riêng thì nhất định sẽ còn hàng xóm thù địch lẫn nhau.

Bàn về 11/9, người đồng nghiệp đã bình tâm hơn. Anh nói, giá như mọi người biết đặt quyền lợi của mình trong cái chung, sẽ không có thảm họa. Nếu nghĩ đến cả cộng đồng thì ai cũng là người chiến thắng. Vơ vét cho riêng mình sẽ tự tiêu diệt. Cộng đồng toàn những kẻ tham lam, bạc bẽo, ngày kia sẽ tàn lụi.

Xa hơn nữa là tầm quốc gia và toàn cầu. Nghĩ đến “của mình, nước mình” thì thảm họa kiểu 11/9 hay chiến tranh Việt Nam tương tự sẽ còn, mà kẻ ích kỷ gây ra chưa chắc đã thoát bị trừng phạt, bằng cách này hay cách khác, dưới dạng này hay dạng khác.

Chỉ có điều, người lương thiện như cậu tôi, bạn tôi, người viết bài và kể cả độc giả sẽ bị thiệt thòi nhất. Bài học 11/9 với Twin Tower bị "san phẳng" thành Ground Zero hay cuộc ném bom "san phẳng" Việt Nam còn đó mãi với nhân loại.

*
Hiệu Minh
http://vietnamnet.vn/thegioi/binhluan/2009/09/868084/

Saturday, August 15, 2009

Xây dựng đội ngũ trí thức, bắt đầu từ hành động

(QT) - Vị trí và vai trò của đội ngũ trí thức trong xã hội luôn được người Việt Nam chúng ta coi trọng, luôn đặt vào vị trí hàng đầu. Không chỉ đợi đến thời kỳ xuất hiện khái niệm "nền kinh tế tri thức", người Việt mới coi trọng đội ngũ trí thức, mà ngay từ thời phong kiến, trên tấm bia ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám ghi danh những tiến sĩ đầu tiên khoa Nhâm Tuất (1442) đã nêu bật được tầm quan trọng của đội ngũ trí thức, đối với giáo dục nhân tài trong việc hưng thịnh của đất nước: "...Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...".

Các bậc minh triết xưa cũng đã có những nhận định trở thành chân lý cho mọi thời đại: “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng”. Có nghĩa là đất nước muốn hưng thịnh thì phải nhờ vào trí thức.

Quan niệm "nhất sỹ, nhì nông" một phần nao đó còn đúng trong xã hội ngày nay. Nhất sỹ tức là đề cao tri thức, đề cao trí tuệ. Và thực tế cho thấy rằng, đội ngũ trí thức chính là những người tiên phong để tạo ra tri thức mới, tạo ra trí tuệ mới, hoặc chí ít là đội ngũ có trách nhiệm cao nhất trong giữ gìn, truyền bá và phát huy tri thức vô tận của nhân loại.

Lược qua một vài quan niệm về tri thức và đội ngũ trí thức của người xưa và sự nhìn nhận của xã hội ngày nay thì có thể khẳng định rằng đội ngũ trí thức chính là lực lượng quan trọng đối với sự vong, thịnh của đất nước.

Tuy nhiên, quan niệm chưa đủ. Để biến quan niệm đó thành thực tế, tức là tạo mọi điều kiện cho đội ngũ trí thức phát huy cao nhất tri thức của mình, đóng góp vào sự hưng thịnh của dân tộc thì hoàn toàn là một vấn đề khác. Lịch sử của nhân loài đã chứng kiến rất nhiều thành quả cũng như hậu quả khôn lường trong cách sử dụng đội ngũ trí thưc.

Nhớ thời Tam quốc chí, vua Lưu Bị cai trị nước Thục nhờ sáng suốt biết thu phục nhân tâm và trọng dụng người tài, thực tâm cầu hiền, không quản đường xa, khẩn cầu Khổng Minh, một nhân tài đa mưu, túc kế ra phò tá làm quân sư. Ngược lại, Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế Trung Hoa đầu tiên có công thống nhất đất nước nhưng cai trị đất nước bằng bạo quyền, đốt sách, không coi trọng trí thức, chỉ được thời gian ngắn đất nước lại hỗn loạn, phân ly.

Thời phong kiến, ở nước ta đã có biết bao bài học khi biết trọng dụng trí thức thì công cuộc bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước phát triển rất hiệu quả nhờ tầng lớp trí thức lãnh đạo biết khơi dậy, hòa đồng cùng với nhân dân xả thân vì nghiệp lớn. Bài “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, bài thơ Thần bất hủ của Lý Thường Kiệt xác định chủ quyền của đất nước, hay bản hùng văn lịch sử của Nguyễn Trãi :”Bình Ngô đai cáo” là minh chứng cho sự sáng suốt của các tiền nhân biết coi trọng và sử dụng trí thức là các nhà quân sự, nhà tư tưởng chiến lược của thời đại.

Hồ Chủ tịch trong những ngày đầu thành lập Chính phủ kháng chiến cũng đã từng phân vân “không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những người tài đức không thể xuất thân”. Chính Bác đã mời những nhà trí thức nổi tiếng như Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Lương Định Của... từ bỏ chốn phồn hoa đô hội và cuộc sống nhung lụa ở các nước phương Tây, Nhật Bản về nước đi theo kháng chiến.

Tại sao những người như Giáo sư, Viện sỹ Phạm Quang Lễ (sau này được Bác đặt tên là Trần Đại Nghĩa để ghi nhận nghĩa hiệp của ông đối với cách mạng) đã từng là trí thức làm việc trong ngành chế tạo máy bay, vũ khí ở Pháp lại hồi hương, chấp nhận làm việc ở một môi trường khắc nghiệt, thiếu thốn trong những ngày đầu kháng chiến, chỉ mong đóng góp một phần tri thức của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc?

Phải chăng chính vì sự ngưỡng mộ tài năng trác việt và nhân cách cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hay chính nhờ vào sự thu phục nhân tâm và sự cảm hóa đội ngũ trí thưc tài tình của Bác? Bác Hồ đã để lại cho chúng ta "bài học sử dụng đội ngũ trí thức" vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Bài học đó vẫn còn mang tính thời sự cho đến ngày hôm nay.

Bài học về cách dụng người của Bác thật sinh động, nhưng để biến bài học đó thành hiện thực thì không những cần có những quan niệm đúng đắn mà cần có những chính sách đúng đắn đối với đội ngũ trí thức. Nói cách khác, "quan niệm đúng đắn" mới chỉ là lý thuyết, "chính sách đúng đắn" mới là động lực trực tiếp để khuyến khích sự cống hiến của đội ngũ trí thức đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của quê hương, đất nước.

Đối với Quảng Trị, đội ngũ trí thức ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng, hiện có khoảng 350 người có trình độ thạc sỹ, tiến sỹ. Trong phát biểu tại buổi gặp mặt đội ngũ trí thức toàn tỉnh lần thứ nhất ngày 27/3/2009, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đã ghi nhận đội ngũ trí thức của tỉnh nhà "đã có những cống hiến to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần quan trọng vào sự phát triển quê hương, đất nước".

Tuy nhiên, nhìn một cách công bằng và khách quan thì chính sách "chiêu hiền, đãi sỹ" của tỉnh Quảng Trị trong những năm vừa qua mặc dù đã có những đổi mới nhưng chỉ mới dừng ở một vài chính sách cơ bản, chưa có một quy hoạch xây dựng, thu hút đội ngũ trí thức mang tầm quy mô và chiến lược. Sẽ là khập khiểng nếu so sánh chính sách thu hút nhân tài với các tỉnh và các thành phố lớn trên cả nước có mặt bằng kinh tế cao hơn Quảng Trị.

Ví dụ, thành phố Hồ Chí Minh có có chính sách xây dựng đội ngũ trí thức bằng cách gửi hàng trăm người đi đào tạo tiến sỹ tại nước ngoài và cam kết trở về phục vụ tại thành phố. Thành phố Đà Nẵng không chỉ thu hút nguồn lực từ bên ngoài mà còn quan tâm đào tạo tại chỗ đối với học sinh đang theo học tại các trường THPT trên địa bàn và gửi học sinh đi đào tạo tại các trường ĐH trong và ngoài nước bằng ngân sách thành phố. Điều đó đã thể hiện được sự quyết tâm rất lớn thông qua các chính sách có lộ trình minh bạch và lâu dài của chính quyền đối với mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức.

Chưa làm tốt chính sách thu hút nhân tài thì tình trạng "chảy máu chất xám" là điều không thể tránh khỏi. Xây dựng một đội ngũ trí thức lớn mạnh cho tỉnh nhà phải cần được cụ thể hóa bằng các chủ trương, chính sách thu hút nhân tài; các biện pháp nhằm lành mạnh hóa, tạo điều kiện tôt nhất về môi trường làm việc.

Nhìn xa hơn, hiền tài phải được hướng tới lớp trẻ, bởi họ là những người khao khát cống hiến, phục vụ cho quê hương, có khả năng tiếp thu và sáng tạo những cái mới. Tin tưởng vào lớp trí thức trẻ chính là tạo điều kiện để khơi nguồn hiền tài và làm cho họ nhận thức được vai trò và trọng trách đối với sự phát triển của quê hương, đất nước.

Vì vậy, cần tạo môi trường "cạnh tranh dựa trên tri thức và năng lực thực thụ" cho trí thức làm việc, phát huy năng lực, có chế độ đãi ngộ xứng đáng với công sức, thành quả họ mang lại.

Tuy nhiên, sẽ không công bằng nếu cho rằng sự lớn mạnh của đội ngũ trí thức tỉnh nhà chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào chủ trương, chính sách, chế độ đãi ngộ của tỉnh mà chính đội ngũ trí thức phải tự ý thức được trách nhiệm đối với quê hương, đất nước mình. Một trí thức chân chính sẽ tự biết tìm cách để luôn sáng tạo và sử dụng tri thức mình có, cống hiến sức lực và trí tuệ cho sự phát triển, phồn thịnh của quê hương, đất nước.

Trương Đình Thăng

http://baoquangtri.vn/default.aspx?TabID=85&modid=389&ItemID=11149

Monday, June 1, 2009

Muốn chiến thắng, phải tư duy như một người chiến thắng

Các bạn thân mến,
Có điều này cứ khiến tôi trăn trở từ khoảng 10 năm nay. Giờ có lẽ chính là lúc để tôi chia sẻ với các bạn.
Thường thì khi chỉ ra một điểm yếu kém hay một vấn đề nào đó của quốc gia, sẽ có người phản biện rằng, “Chúng ta còn tốt hơn nhiều nước châu Phi,” hay “Nhiều nước đang phát triển còn tệ hơn chúng ta,” hay “Chúng ta là một nước nghèo.”
Đó là cái mà tôi gọi là “Tâm lý của kẻ thua cuộc.”
Thử tưởng tượng khi giáo viên nói với học sinh, “Em có thể học tốt hơn thế này, hãy cố gắng hơn nữa,” và cậu học sinh trả lời, “Thưa thầy, gia đình em nghèo, nhiều bạn học sinh nghèo khác còn học kém hơn em.”
Tại sao lại so sánh mình với những kẻ thua cuộc? Tại sao không đem mình ra so sánh với những người xuất sắc nhất? Thay vì so sánh chúng ta với những nước đang phát triển, hay những nước nghèo, tại sao không nói, “Chúng ta muốn sẽ đánh bại Pháp và Mỹ trong lĩnh vực công nghệ và kinh doanh.”
“Anh điên à? Đó là hai trong số các cường quốc lớn nhất trên thế giới. Thật là hão huyền và viển vông!”
“Người anh em, nếu tôi nhớ không nhầm, chúng ta đã đánh bại hai nước này trên mặt trận quân sự. Vậy thì kinh doanh hay công nghệ có là gì?”
Thử tưởng tượng 70 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với cả nước, “Thưa Đồng bào, Pháp là một trong những cường quốc mạnh nhất thế giới. Chúng ta không thể đọ được với súng ống và đại bác của họ. Các vị thật quá điên rồ khi nghĩ đến chuyện chiến đấu với họ, chưa nói đến việc đánh bại họ.” Nếu Người đã nói như vậy, giờ chúng ta sẽ ra sao?
Thật không may, sau chiến thắng trên mặt trận quân sự, những thế hệ tiếp theo sống đớn hèn, không nghị lực, không ý chí, không khát khao chiến thắng, không hoài bão vượt trội.
Mấy năm trước, khi tôi bay về Việt Nam, vài người bạn của tôi ở Bộ Ngoại giao đón tôi ở sân bay. Tôi đã rất bức xúc trước thực trạng cán bộ Hải quan đòi tiền Việt kiều ở sân bay, nên tôi nói với bạn mình: “Cậu biết không, mấy thằng trong kia chỉ chăm chăm đòi tiền dân chúng.” Một người bạn của tôi nói rằng, “Ồ, các anh có hàng đống tiền cơ mà. Anh nên chia bớt cho những người anh em nghèo khó mới phải.”
Nghe đến đó, tôi rất thất vọng, nên im lặng không trả lời. Đó là tâm lý của kẻ thua cuộc, tâm lý chấp nhận chất lượng hạng ba, và lý luận bảo vệ sự cam chịu đó. Người bạn này của tôi về sau trở thành đại sứ ở nhiều nước, anh ta không hề thấp kém. Vậy bạn có thể hình dung bao nhiêu người ở nước ta có tâm lý của kẻ thua cuộc như thế.
Nếu có nhiều đến thế những người mang tâm lý của kẻ thua cuộc, Việt Nam sẽ đi về đâu?
Chúng ta, thế hệ này, nên cảm thấy hổ thẹn với cha ông. Cha ông ta đã không nói: “Pháp và Mỹ quá mạnh, chúng ta không thể chiến thắng.” Cha ông ta chỉ có một điều duy nhất trong suy nghĩ – chiến thắng hay là chết. Đó chính là hoài bão vượt trội, khát vọng chiến thắng, khao khát không chấp nhận đứng thứ hai (bởi vị trí thứ hai đối với họ chính là cái chết).
Nếu muốn chiến thắng, cần phải tư duy như một người thắng cuộc. Và đó là, “Chúng ta muốn thắng những người mạnh nhất. Chúng ta muốn là vô địch. Và chúng ta sẽ tạo ra con đường của mình từ đây đến chiến thắng cuối cùng.” Tâm lý của người thắng cuộc đó sẽ tự động buộc tâm trí ta vào trạng thái không chấp nhận làm kẻ tầm thường, không chấp nhận biểu hiện kém cỏi, không chấp nhận bất cứ cái gì thấp hơn nỗ lực cao nhất, phấn đấu lớn nhất, làm việc chăm chỉ nhất, và tư duy tích cực nhất.

Ai đó có thể nói, “Nhưng chiến đấu vì sinh tồn khác với cạnh tranh để làm giàu. Nền văn hóa của chúng ta chưa bao giờ coi trọng sự giàu sang. Trong nền văn hóa truyền thống, một thầy giáo nghèo là người được coi trọng nhất.”
Câu trả lời của tôi sẽ là:
(1) Khi chúng ta chiến đấu chống lại Pháp và Mỹ, đó không chỉ là chiến đấu để tồn tại. Chúng ta vẫn có thể sống dưới ách đô hộ của Pháp và Mỹ. Nhưng đó là một cuộc sống không có danh dự. Chúng ta chiến đấu vì danh dự, không phải vì sinh tồn.
(2) Ngày nay, chiến đấu để làm giàu và chống đói nghèo cũng là chiến đấu vì danh dự, bởi bất cứ ai trên thế giới cũng đều khinh thường công dân của một nước nghèo.
(3) Nền văn hóa truyền thống tôn vinh cái nghèo là hoàn toàn sai lầm. Là thuốc phiện. Đối với một cá thể, có thể sự giàu sang là vấn đề ý thích cá nhân, và không ảnh hưởng nhiều đến người khác. Nhưng đối với một quốc gia, đói nghèo là cái tội, sự giàu sang là sức mạnh và độc lập. Nếu Việt Nam giàu và mạnh từ một ngàn năm trước, thì Trung Quốc, Pháp, Mông Cổ, Nhật, và Mỹ đã chẳng dám tấn công chúng ta.
Nếu thế, ta đã chẳng mất một ngàn năm chiến tranh. Đối với một quốc gia, nghèo nghĩa là yếu, là mở cửa cho những kẻ khác tấn công, là để bị đô hộ và giày xéo bởi các quốc gia khác, là bị khinh thường bởi người dân của các nước giàu có hơn. Hãy đi ra thế giới và bạn sẽ hiểu.
Đói nghèo là căn bệnh của một quốc gia. Đói nghèo cần phải bị xóa bỏ.
Bất kể triết lý cá nhân của mỗi chúng ta về sự giàu sang ra sao, đối với đất nước, làm giàu là mục tiêu chính yếu. Vì vậy hãy nhắc nhau đòi hỏi nhiều hơn nữa ở bản thân mình, ở bạn bè, thầy cô, chính phủ, và những nhà lãnh đạo.

Hãy nhìn cách những nước giỏi nhất thế giới, như Nhật, Anh, Úc làm việc, học hỏi từ họ với quyết tâm về sau sẽ vượt qua họ (và họ sẽ vui lòng lắng nghe bạn, các bạn sinh viên, nói lên điều này, bởi bất cứ một giáo viên chân chính nào cũng muốn nhìn thấy cái ngày học trò đánh bại mình).

Hãy ngừng suy nghĩ “Chúng ta là một nước nghèo, nên thế này là tốt rồi.” Không, sẽ là không đủ cho tới khi ta có thể đánh bại những người xuất sắc nhất trên thế giới.
Hãy tin vào chính mình. Nếu ta nghĩ ta có thể làm được, thì ta sẽ làm được.

Đừng chấp nhận làm kẻ tầm thường. Đừng chấp nhận đứng ở vị trí thứ hai.
Hãy chấp nhận là người xuất sắc nhất.
Luôn đòi hỏi bản thân và dân tộc vượt trội nhất.
Và chúng ta có lịch sử hỗ trợ bên mình, rằng chúng ta có thể làm được những gì mà các dân tộc khác cho là không tưởng.
Trần Đình Hoành

Saturday, May 9, 2009

Let's complain less & give more!

If you think you are unhappy, look at them!


You think you get low salary?


You dont have many friends?


You feel disappointed and don't want to be alive


You think you work too hard?


You always complain about the transport system?


You think the society is unfair to you?





















Friday, April 10, 2009

Văn hóa và văn hóa đi xe bus

Đọc một vài bài báo mục "Bạn đọc viết" trên www.vnexpress.net về "văn hóa đi xe bus của người Việt", tự nhiên mình cũng muốn "tản mạn" một chút về "Văn hóa và văn hóa đi xe bus".

Một vấn đề thường có hai hoặc trên hai cách hiểu, cách nhìn nhận khác nhau dù đó là một vấn đề tưởng chừng đơn giản. Vì vậy chủ điểm về "văn hóa đi xe bus" của Việt Nam (ngày nay) cũng được từng vị khách cảm nhận khác nhau. Có thể chia thành 3 loại ý kiến: Không chấp nhận văn hóa đi xe bus tại Việt Nam; chấp nhận; lưỡng phân (vừa chấp nhận vừa không chấp nhận, tùy hoàn cảnh cụ thể). Đó là lẽ đương nhiên trong tất cả các cuộc tranh luận. Chấp nhận hoặc không chấp nhận quan điểm của nhau bằng cách lý luận logic cũng là cách tạo ra văn hóa tranh luận. Tuy nhiên, có lẽ cách hiểu cụm từ "văn hóa" của những người tranh luận không thống nhất và không hiểu đúng nguyên nghĩa của cụm từ này. "Văn hóa" không bao giờ mang nghĩa xấu. Những gì xấu thì không bao giờ gắn với cụm từ "văn hóa". Chính vì không hiểu thực chất của cụm từ này nên đã có thời gian chúng ta sử dụng cụm từ "văn hóa đồi trụy" một cách tràn lan, xuất hiện nhiều trên báo chí, thậm chí nó trở thành một cụm từ "đắt giá" để mô tả sự hoành hành của lối sống, sách vở, báo chí, băng dĩa có nội dung đồi trụy, không phù hợp với truyền thống, bản sắc của dân tộc. Để đưa ra một định nghĩa chính xác về "văn hóa" để mọi người chấp nhận là điều không tưởng, vì "văn hóa" là cụm từ trừu tượng, một cụm từ mang tính khái quát. Chính vì vậy định nghĩa về "văn hóa" cung chỉ mang tính phổ quát mà thôi. Nói một cách ngắn gọn: "Văn hóa chính là những giá trị, niềm tin, kiến thức, lối sống được một cộng đồng, một xã hội thừa nhận và chia sẽ".

Trở lại vấn đề "văn hóa" đi xe bus của người Việt Nam, có thể đưa ra nhận xét sau:

Chúng ta vẫn chưa tạo được "văn hóa" đi xe bus. Nói cách khác là chúng ta chưa tạo được lối sống văn minh khi sử dụng hệ thống xe bus ở Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có thể liệt kê 2 nguyên nhân nổi bật sau:

- Ý thức tham gia phương tiện giao thông công cộng của hành khách quá kém. Có thể dễ nhận xét điều này nếu chứng kiến cảnh chen lấn lên xe bus của hành khách tại các giờ cao điểm hoặc tại các trạm xe bus trung tâm. Nếu đọc giả nào chưa từng chứng kiến cảnh chen lấn, xô đẩy tại các trạm dừng xe bus thì có thể xem các đoạn video clips về cảnh móc túi tại các điểm dừng xe bus mà vnexpress.net đã từng cảnh báo. Tiện thể cũng bàn thêm, nếu ý thức của hành khách tốt, ví dụ không chen lấn, xếp hàng lên xe bus thì cảnh móc túi chắc chắn cũng sẽ giảm. Chính vì ý thức kém của từng hành khách mà tạo điều kiện cho những kẻ móc túi lộng hành.

- Ý thức của tài xế xe bus và lơ xe còn kém. Không phải toàn bộ, nhưng một số tài xế, lơ xe cũng có ý thức quá kém trong khi thực hiện nhiệm vụ. "Văn hóa xe bus" được dần dần tạo nên bởi ý thức tham gia của từng hành khách và của từng tài xế và lơ xe. Đó là hướng dẫn hành khách cách lên, xuống, ổn định chổ ngồi,.... Tận tình hướng dẫn khách nếu khách chưa quen tham gia hệ thống giao thông công cộng. Văn hóa người Việt có một điều cực kỳ hạn chế so với văn hóa các nước phương Tây đó là cực kỳ "tiết kiệm" hai cụm từ "cám ơn" và "xin lỗi". Ở phương Tây chúng ta có thể thấy hai cụm từ này trở thành cửa miệng đối với tất cả mọi người. Vì vậy, khó mà "bắt" tài xế "cám ơn" khi khách lên xe bus hoặc "bắt" khách "cám ơn" khi xuống xe. Tuy nhiên, nở một nụ cười thì tài xế và hành khách có thể làm được. Thế thì tại sao chúng ta chưa tạo ra nét văn hóa như vậy?

Văn hóa đi xe bus của người Singapore như lời kể của bạn Nguyễn Huy Phú là văn hóa được tìm thấy ở hầu hết các nước phát triển, có hệ thống giao thông công cộng phát triển. Cũng như Singapore, tại New Zealand, những nét văn hóa đi xe bus của người tham gia giao thông rất rỏ nét. Đó là: "Thank you" khi lên xe, mua vé, xuống xe, "Sorry" nếu lên nhầm chuyến xe bus, tất cả đều phải xếp hàng lên xe bus. Nếu lần đầu tham gia hệ thống đi xe bus thì hành khách cũng không nên quá lo lắng vì tài xế xe bus rất tận tình hướng dẫn và cung cấp những thông tin bạn cần.

Lần đầu tiên tham gia hệ thống giao thông xe bus mình rất ngạc nhiên vì chứng kiến hầu hết các hành khách khi xuống xe đều "thank you" tài xế. Điều đó không có nghĩa là "cám ơn vì đã cho tôi một hành trình an toàn" mà còn thể hiện sự kính trọng của mọi người đối với một công việc. Nghề nghiệp nào cũng đáng quý, đáng trân trọng.

Trong thời gian vừa qua chúng ta đã đọc bao nhiêu bài báo nói về "những hung thần của đường phố". Chính vì sự vô trách nhiệm, sự bất cẩn, xem thường tính mạng của người tham gia giao thông nên một số ít tài xế xe bus đã gây ra những tai nạn thương tâm. Vừa đây thôi, chúng ta lại chứng kiến một vụ tai nạn thảm khóc. Hậu quả là 3 người cùng một gia đình chết do sự bất cẩn của tài xế xe bus. Chính vì vậy mà hình ảnh của các tài xế xe bus xấu đi rất nhiều trong mắt của hành khách. Xây dựng văn hóa xe đi xe bus phải đầu tiên bắt đầu từ các tài xế xe bus. Đó phải là những tài xế yêu nghề, lịch thiệp, văn minh, có trách nhiệm với hành khách và nghề nghiệp. Cũng phải nói thêm rằng, đòi hỏi có được một đội ngũ tài xế xe bus "đúng chuẩn" mà quên đi các yếu tố khác thì thật không công bằng. Đó là cần có sự quan tâm đúng mức của các công ty trực tiếp quản lý đội ngũ tài xế xe bus, cách tuyển nhân sự cho đội ngũ tài xế, chế độ lương bổng, hiện đại hóa hệ thống quản lý xe bus...vv

Tóm tại, "văn hóa đi xe bus không phải từ trên trời rơi xuống" mà trực tiếp được tạo nên bởi chính những người tham gia giao thông, của đội ngũ tài xế xe bus. Văn hóa đó gián tiếp được tạo nên bởi các công ty quản lý, của các cơ quan hoạch định chính sách phát triển giao thông công cộng, của các lực lượng chức năng tham gia quản lý giao thông.

Vô cảm

Vô cảm có nghĩa là không có tình cảm, không có cảm xúc, thường chỉ tình cảm của một con người rất dửng dưng trước những nổi đau của người khác. Ngôn ngữ cũng như cuộc sống vậy, cái gì có trong cuộc sống, cái đó sẽ được thể hiện bằng ngôn ngữ cho dù nó thuộc loại hình nào, cụ thể hay trừu tượng. Vô cảm là một từ trừu tượng để mô tả biểu hiện của tình cảm con người nhưng nó có thể trở thành cụ thể để chỉ một con người nào đấy, ví dụ "một thằng cha vô cảm!" (câu này chắc nói trong tư thế chiến nhau!)
"Vô cảm" nó có thể gây đau khổ cho người khác nhưng cũng có thể gây đau khổ cho chính mình hoặc cho cả hai. Một ông chồng vô cảm trước vẻ đẹp của người vợ thì vừa đau khổ cho chính mình, vừa đau khổ cho người vợ. Đứng trước một cành hoa đẹp mà vô cảm thì thật đau khổ cho thiên nhiên. Người không vô cảm thì người ta biết nâng niu cành hoa đó, người vô cảm thì tặc lưởi đi qua hoặc đưa tay ngứt cành không thương tiếc.
Xã hội nhiều người vô cảm thì trở thành hiện tượng "xã hội vô cảm" - một hiện tượng đã và đang xuất hiện nhiều trong xã hội Việt Nam, một xã hội đang trong thời kỳ "tranh tối tranh sáng"
Chiều nay đi dạo quanh phố với đứa bạn, vừa qua New Zealand học thạc sỹ quản lý thông tin, anh bạn phát biểu: không cần nhìn đâu xa, để nhận biết được một đất nước phát triển hay không chỉ cần nhìn vào dịch vụ công cộng mà ở đó có sự ưu tiên đặc biệt cho người tàn tật. Kết luận của anh bạn có lẻ không hoàn toàn 100% chính xác nhưng ít nhất 90% chính xác. Ở Việt Nam những dịch vụ công cộng ví dụ nhà ga, xe bus, bưu điện, trường học, ... hiếm có nơi nào có những công cụ hoặc có những chỗ thuận lợi để phục vụ riêng cho người tàn tật. Đất nước New Zealand không nơi nào là không có! Có phải chúng ta vô cảm trước nổi đau, nổi khốn khổ của người khác hay đất nước chúng ta không có người tàn tật????
Vô cảm còn biểu hiện ở những công chức nhà nước, những con người ăn lương từ những đồng tiền thuế của Dân, nhưng Hành Dân thì không ai bằng. Vô cảm trước những người dân bình thường đã là chuyện khó chấp nhận, có những người còn vô cảm trước những anh thương binh đã từng đổ xương máu cho độc lập của dân tộc. Đó là sự vô cảm man trá, sự vô cảm của tạm gọi con người mà không có trái tim người.
Đọc bài báo "Sự mập mờ của văn bản hay sự vô cảm của con tim" trên báo Dân trí (http://dantri.com.vn/c202/s202-300033/su-map-mo-cua-van-ban-hay-su-vo-cam-cua-con-tim.htm) mới thấy sự vô cảm đó đã thành thâm căn cố đế trong một số bộ phận công chức nhà nước.
Xã hội có phát triển được hay không là tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó mỗi cá nhân là mỗi tế bào của xã hội, cơ thể xã hội phát triển được hay không là nhờ từng tế bào khỏe mạnh, phải là những tế bào không biết vô cảm trước nỗi đau của con người.